13 suy nghĩ sai lầm về vaccine COVID-19

Translated from Medical News Today's article Addressing 13 COVID-19 vaccine myths

Trong số tất cả các biện pháp can thiệp y tế hiện đại mà chúng ta đang có, ít có biện pháp nào phải chịu nhiều sự hiểu lầm như vaccine.


By Tim Newman, on 29-01-2021, 03:00:00

Trong số tất cả các biện pháp can thiệp y tế hiện đại mà chúng ta đang có, ít có biện pháp nào phải chịu nhiều sự hiểu lầm như vaccine. Khi thế giới đang chiến đấu với một đại dịch, việc khẩn cấp nhất bây giờ là phân biệt giữa sự thật và giả dối. Trong số tất cả các biện pháp can thiệp y tế hiện đại mà chúng ta đang có, ít có biện pháp nào chịu nhiều sự hiểu lầm như vaccine. Khi thế giới chiến đấu với một đại dịch, việc khẩn cấp nhất bây giờ là phân biệt đâu là sự thật và đâu là tin giả.

  1. Vaccine không an toàn vì chúng được phát triển quá nhanh

Đúng là các nhà khoa học đã phát triển vaccine COVID-19 nhanh hơn bất kỳ loại vaccine nào khác cho đến nay - dưới 1 năm. Kỷ lục trước đó là vaccine phòng bệnh quai bị, được phát triển trong 4 năm. Có một số lý do khiến vaccine COVID-19 được phát triển nhanh hơn, nhưng trong đó không có lý do nào làm giảm tính an toàn của nó. Ví dụ, các nhà khoa học đã không bắt đầu với hai bàn tay trắng. Mặc dù về mặt khoa học thì SARS-CoV-2 là chủng virus mới, nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về gia đình coronavirus trong nhiều thập kỷ. Ngoài ra, bởi vì COVID-19 đã lan ra khắp các châu lục trên trái đất, quá trình phát triển vaccine đã nhận được sự hợp tác chưa từng có trên toàn thế giới. Hơn nữa, trong khi nhiều nỗ lực khoa học gặp khó khăn về mặt kinh phí, các nhà nghiên cứu COVID-19 đã nhận được hỗ trợ kinh phí từ nhiều nhà tài trợ. Một yếu tố khác làm chậm quá trình phát triển vaccine là việc tuyển tình nguyện viên tham gia vào thử nghiệm. Nhưng trong trường hợp của COVID-19, có rất nhiều người muốn đăng ký tham gia. Ngoài ra, trong điều kiện thông thường, các quy trình thử nghiệm lâm sàng được thực hiện tuần tự. Nhưng trong trường hợp đặc biệt này, các nhà khoa học đã có thể lập nên một số thử nghiệm gối đầu nhau trong cùng một lúc để giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian. Những yếu tố này cộng thêm một số yếu tố khác khiến vaccine có thể được phát triển nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến tính an toàn. Nói tóm lại: quá trình xác định virus nhanh hơn; chúng ta đã có kinh nghiệm làm việc với các mầm bệnh tương tự; công nghệ vaccine đã phát triển từ những năm 1980; tất cả các chính phủ trên trái đất đều quan tâm; và có rất ít hạn chế về tài chính. 2. Vaccine sẽ làm DNA của tôi thay đổi Một số vaccine COVID-19, bao gồm vaccine của Pfizer-BioNTech và Moderna, dựa trên công nghệ RNA thông tin (mRNA). Các loại vaccine này hoạt động khác so với các loại vaccine truyền thống. Vaccine cổ điển đưa mầm bệnh đã được bất hoạt hoặc một phần mầm bệnh vào cơ thể để “dạy” nó cách tạo ra phản ứng miễn dịch. Ngược lại, vaccine mRNA cung cấp các hướng dẫn tạo protein của mầm bệnh trình diện cho tế bào của chúng ta. Một khi protein được tạo ra, hệ thống miễn dịch sẽ phản ứng với nó, dạy cơ thể cách đối phó với các cuộc tấn công từ chính mầm bệnh đó trong tương lai. Tuy nhiên, mRNA không tồn tại mãi trong cơ thể, và nó cũng không thể tích hợp vào DNA của chúng ta. Khi nó đã cung cấp các hướng dẫn tạo protein, tế bào sẽ phân huỷ những mRNA này. Trên thực tế, mRNA thậm chí sẽ không tiếp cận được nhân tế bào, nơi chứa DNA của chúng ta. 3. Vaccine COVID-19 có thể làm bạn bị COVID-19 Vaccine COVID-19 không thể làm một cá nhân nào đó bị COVID-19. Dù là loại vaccine cổ điển hay hiện đại, không có loại vaccine nào chứa virus sống. Tất cả các tác dụng phụ, chẳng hạn như nhức đầu hoặc ớn lạnh, đều là do phản ứng miễn dịch chứ không phải do nhiễm trùng. 4. Vaccine chứa một microchip Một cuộc thăm dò được tiến hành bởi YouGove tại Hoa Kỳ vào năm ngoái đã hỏi 1.640 người một loạt câu hỏi về COVID-19. Đáng kinh ngạc, 28% người được hỏi tin rằng Bill Gates có kế hoạch sử dụng vaccine COVID-19 như một phương tiện để cấy microchip vào dân số. Theo một số người, microchip này sẽ cho phép tầng lớp cao cấp ngầm theo dõi mọi hành động của họ. Trên thực tế, điện thoại di động của chúng ta đã làm được việc này một cách dễ dàng. Không có bằng chứng cho thấy bất kỳ loại vaccine COVID-19 nào có chứa microchip. Mặc dù có nhiều tình huống đặc biệt được giả định khác nhau tuỳ theo thuyết âm mưu, một số người tin rằng vaccine có chứa các thẻ nhận dạng tần số vô tuyến. Chúng bao gồm một bộ thu phát dữ liệu thông qua vô tuyến. Tuy nhiên, việc thu nhỏ các thành phần này đến một kích thước đủ nhỏ để vừa với đầu kim là điều bất khả thi. 5. Vaccine COVID-19 có thể khiến bạn vô sinh Không có bằng chứng cho thấy vaccine COVID-19 ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Tương tự, không có bằng chứng cho thấy chúng sẽ gây nguy hiểm cho những lần mang thai sau này. Tin đồn này rộ lên bởi vì người ta cho là protein trên lớp vỏ của virus (spike protein) được mRNA mã hoá có trong vaccine có liên quan đến một protein có tên là syncytin-1. Và syncytin-1 đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình nhau thai bám vào tử cung trong thai kỳ. Tuy nhiên, mặc dù những spike protein này có chứa vài axit amin giống như trong protein syncytin-1, nhưng cấu tạo của chúng thậm chí không gần giống nhau đến mức hệ thống miễn dịch của chúng ta không thể phân biệt được. Dường như là tin đồn này đã bắt đầu được phát tán từ Tiến sĩ Wolfgang Wodarg. Vào tháng 12 năm ngoái, ông đã kiến ​​nghị Cơ quan Dược phẩm Châu Âu tạm dừng các thử nghiệm vaccine COVID-19 ở Liên minh Châu Âu. Trong số các mối quan tâm của ông là "vấn đề" về syncytin-1 đã đề cập ở trên. Tiến sĩ Wodarg có tiền sử hoài nghi đối với vaccine và đã hạ thấp mức độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19. Tiến sĩ Wodarg và cựu phó chủ tịch kiêm nhà khoa học chính của công ty dược phẩm Pfizer Inc. đã tham gia lên tiếng để đưa ra tuyên bố về việc vaccine gây vô sinh, do đó làm dấy lên lo ngại lan rộng. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy bất kỳ loại vaccine COVID-19 nào ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. 6. Vaccine COVID-19 chứa mô bào thai Trong nhiều năm, những người chống vaccine đã lan truyền tin đồn rằng các loại vacccine có chứa mô bào thai. Cả vaccine COVID-19 hay bất kỳ vaccine nào khác đều không chứa bất kỳ mô nào từ bào thai. Như Tiến sĩ Michael Head, một nhà nghiên cứu cấp cao tại Đại học Southampton ở Vương quốc Anh, nói với BBC, "Không có tế bào bào thai nào được sử dụng trong bất kỳ quy trình sản xuất vaccine nào." 7. Những người đã bị nhiễm COVID-19 không cần vaccine Ngay cả những người đã có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 trong quá khứ cũng nên được chủng ngừa. Như Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) viết: “Do các nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng liên quan đến COVID-19 cộng với việc có thể tái nhiễm COVID-19, bạn nên tiêm vaccine bất kể bạn đã bị nhiễm [SARS-CoV-2] hay chưa.” Cũng có khả năng là xét nghiệm ban đầu đã đưa ra kết quả dương tính giả - nói cách khác, xét nghiệm cho kết quả dương tính, nhưng bạn lại không bị nhiễm virus. Vì lý do này, tốt hơn hết là bạn nên thận trọng. 8. Sau khi nhận vaccine, bạn không thể truyền virus Vaccine COVID-19 được thiết kế để ngăn ngừa việc con người bị bệnh sau khi nhiễm virus SARS-CoV-2. Tuy nhiên, một người đã được chủng ngừa vẫn có thể mang virus, có nghĩa là họ cũng có thể truyền virus cho người khác. Vì các nhà khoa học vẫn chưa biết liệu vaccine có ngăn ngừa việc nhiễm trùng hay không, nên một khi ai đó đã được tiêm vaccine thì họ vẫn nên tiếp tục đeo khẩu trang ở nơi công cộng, rửa tay và tiếp tục dãn cách xã hội theo khuyến cáo của chính quyền khu vực. 9. Một khi tôi đã được tiêm phòng, tôi có thể tiếp tục cuộc sống bình thường Thật không may, vì những lý do đã được nhắc đến, điều này không đúng. 10. Vaccine sẽ bảo vệ chúng ta khỏi COVID-19 suốt đời Vì các nhà khoa học mới chỉ nghiên cứu về loại virus này trong khoảng 1 năm, chúng ta vẫn không biết cơ thể chúng ta có thể bảo vệ chúng ta khỏi virus này trong bao lâu. Theo WHO: “Còn quá sớm để biết liệu vaccine COVID-19 có thể bảo vệ lâu dài hay không. […] Tuy nhiên, điều đáng khích lệ là dữ liệu có sẵn cho thấy rằng hầu hết những người phục hồi sau khi nhiễm COVID-19 đã phát triển một phản ứng miễn dịch mà có thể tạo ra ít nhất một khoản thời gian bảo vệ để chống lại sự tái nhiễm - mặc dù chúng tôi vẫn đang tìm hiểu mức độ bảo vệ này mạnh mẽ như thế nào và thời gian tồn tại kéo dài bao lâu.” Có thể chúng ta sẽ cần tiêm phòng COVID-19 hàng năm, giống như cách chúng ta làm với tiêm phòng bệnh cúm. 11. Những người có các bệnh lý từ trước không thể nhận vaccine Điều này là không đúng sự thật. Những người đã mắc hầu hết các bệnh - bao gồm bệnh tim, tiểu đường và bệnh phổi - có thể nhận vaccine COVID-19. Tuy nhiên, nếu có ai lo lắng thì họ luôn nên tham khảo ý kiến với bác sĩ. Trên thực tế, bởi vì các bệnh sẵn có, chẳng hạn như béo phì và bệnh tim, có thể làm tăng nguy cơ phát triển các triệu chứng COVID-19 nghiêm trọng hơn, nên việc tiêm chủng thậm chí còn quan trọng hơn đối với những người có vấn đề sức khỏe từ trước. Có một ngoại lệ: những người bị dị ứng với bất kỳ thành phần nào của vaccine thì không nên tiêm. Bất kỳ ai từng bị dị ứng với bất kỳ loại vaccine nào trong quá khứ nên tham khảo với bác sĩ của họ. Tuy nhiên, CDC khuyến cáo rằng “những người có tiền sử phản ứng dị ứng nghiêm trọng không liên quan đến vaccine hoặc thuốc tiêm - chẳng hạn như dị ứng thức ăn, vật nuôi, nọc độc, môi trường hoặc cao su - vẫn nên tiêm phòng. Những người có tiền sử dị ứng với thuốc uống hoặc tiền sử gia đình có phản ứng dị ứng nghiêm trọng cũng có thể được tiêm phòng ”. 12. Những người có hệ thống miễn dịch bị tổn hại không thể tiêm vaccine Vì vaccine không chứa mầm bệnh sống nên sẽ không gây nhiễm trùng. Do đó, những người có hệ thống miễn dịch bị tổn hại vẫn có thể tiêm vaccine. Tuy nhiên, họ có thể không tạo nên khả năng bảo vệ miễn dịch ở mức độ giống như người có hệ thống miễn dịch hoạt động đầy đủ. CDC cũng giải thích rằng một số người có hệ thống miễn dịch bị tổn hại đã tham gia vào các thử nghiệm vaccine “Những người bị suy giảm miễn dịch có thể được tiêm chủng vaccine COVID-19 nếu họ không có chống chỉ định tiêm chủng. Tuy nhiên, họ nên được tư vấn về dữ liệu về mức độ an toàn và tính hiệu quả chưa được biết đến của vaccine trong quần thể bị suy giảm miễn dịch. " 13. Người lớn tuổi không thể nhận vaccine Đây là một lầm tưởng. Hiện tại, ở hầu hết các quốc gia nơi các quan chức đang triển khai vaccine, người lớn tuổi đang được ưu tiên vì họ có nguy cơ mắc bệnh nặng nhất. Ngoài ra, một số thử nghiệm lâm sàng có các phân nhóm cụ thể bao gồm người lớn tuổi để kiểm tra tính an toàn của vaccine trong dân số này. Ở Na Uy, 23 người già yếu đã chết ngay sau khi họ được chủng ngừa Pfizer-BioNTech. Có lẽ điều này giúp giải thích lý do tại sao suy nghĩ sai lầm này đang được quan tâm. Cơ quan Y tế Na Uy (NOMA) hiện đang điều tra tình hình. Steinar Madsen, giám đốc y tế tại NOMA, tin rằng các phản ứng có hại thông thường, chẳng hạn như sốt, buồn nôn và tiêu chảy, “có thể làm trầm trọng thêm bệnh tiềm ẩn ở người cao tuổi.” Madsen cũng giải thích rằng "đây là những trường hợp rất hiếm, và chúng xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh rất nghiêm trọng và rất yếu." “Chúng tôi hiện đang yêu cầu các bác sĩ tiếp tục tiêm vaccine nhưng tiến hành một cách thận trọng hơn đối với những người bị bệnh nặng mà tình trạng sẵn có của họ có thể trở nên trầm trọng hơn.” Tóm tắt quan trọng Thật khó tin rằng cách đây không đầy 1 năm, bệnh COVID-19 và virus SARS-CoV-2 hoàn toàn chưa được biết đến. Giờ đây, chúng ta có một số loại vaccine được lưu hành, hiệu quả và an toàn. Trong thời đại internet phát triển như vũ bão này, tin đồn ngày càng lan rộng như cháy rừng. Những nỗi sợ hãi và lo lắng sẽ tạo nên một môi trường hoàn hảo làm cho lời đồn nguy hiểm ngày càng gia tăng. Tình huống thực tế và kiến thực khoa học đang phát triển nhanh chóng. Lời khuyên tốt nhất là hãy đảm bảo rằng bạn luôn lấy thông tin từ các nguồn đáng tin cậy và bỏ qua các bài đăng mang tính giật gân nhưng gây hiểu lầm trên mạng xã hội.


Người dịch: Khang Ton & Quan Ly

Biên tập: Chau Tran